Vật liệu rẻ trên giấy tờ chào hàng đôi khi đắt hơn khi tính cả lô hỏng và phế phẩm, biết cách tính mới chọn đúng.
Đừng so giá vật liệu theo đơn giá mét vuông hay theo tờ, hãy so theo tổng chi phí tới tay khách, cộng cả tỷ lệ hỏng khi in, khi gia công và khi vận chuyển. Chỗ nên dồn tiền là điểm khách nhìn và cầm nhiều nhất, phần khách không cảm nhận có thể tiết kiệm hợp lý. Khi ngân sách hẹp, ưu tiên giữ định lượng đủ cầm lên không mất chất, rồi mới cân nhắc bỏ bớt chi tiết gia công ở phần ẩn.
Câu hỏi Sinh Vũ gặp thường xuyên: "Vật liệu A rẻ hơn vật liệu B, chọn A có được không?" Câu trả lời không nằm ở đơn giá, mà nằm ở tổng chi phí tới tay khách cuối. Vật liệu rẻ mà máy nhà in khó chạy, tỷ lệ hỏng cao, hoặc cầm lên đã mất chất, thường không rẻ hơn khi tính xong cả lô.
Đơn giá vật liệu chỉ là một phần trong bức tranh. Tổng chi phí thật của một lô bao bì bao gồm: đơn giá vật liệu, phí gia công (bế, dán, ép kim, cán màng), tỷ lệ phế phẩm trong quá trình in và gia công, và đôi khi cả phí in thử lại nếu màu lệch do đổi giấy. Khi cộng đủ các khoản này, một vật liệu có đơn giá thấp hơn đôi khi ra tổng cao hơn.
Cách thực tế Sinh Vũ hay dùng: yêu cầu nhà in báo giá trọn gói theo số lượng thành phẩm đạt yêu cầu, không phải theo số lượng tờ in vào máy. Chênh lệch giữa hai con số đó chính là chi phí ẩn của vật liệu.
Không phải mọi bề mặt của bao bì đều cần cùng một mức đầu tư. Nguyên tắc đơn giản: lớp ngoài khách nhìn và cầm nhiều nhất xứng đáng được ưu tiên ngân sách. Lớp trong, phần ẩn, hay bề mặt khách không tiếp xúc là chỗ có thể tiết kiệm hợp lý mà không ảnh hưởng cảm nhận.
Nhiều vật liệu đặc biệt hoặc nhập khẩu chỉ có thể đặt theo lô lớn. Nếu sản lượng mỗi lần in của Anh / Chị nhỏ, hỏi trước nhà in vật liệu đó có đặt được lô nhỏ không, trước khi thiết kế đã bám vào chất liệu đó. Việc chọn vật liệu không khớp sản lượng dẫn đến hai tình huống đều xấu: hoặc phải in dư để đủ lô tối thiểu rồi tồn kho, hoặc phải đổi vật liệu ở phút cuối và chỉnh lại thiết kế.
Sinh Vũ thường hỏi sản lượng thật ngay từ đầu brief để đề xuất vật liệu máy thật chạy được ở đúng con số đó, tránh chọn vật liệu đẹp trên lý thuyết rồi vỡ ở khâu sản xuất.
Chi phí thật của bao bì thường bị đánh giá thấp vì bỏ qua lô in hỏng phải bỏ đi. Nên tối ưu tổng chi phí tới tay khách, đừng tối ưu riêng đơn giá vật liệu.
Sinh Vũ P2, kinh nghiệm thực hành
Sinh Vũ không báo giá in cố định vì giá in do nhà in đối tác báo trực tiếp, và phụ thuộc vào vật liệu, sản lượng, gia công cụ thể của từng dự án. Điều Sinh Vũ làm được là đề xuất vật liệu khớp với máy thật và sản lượng thật của Anh / Chị, rồi đưa ra phạm vi ngân sách sau khi nghe brief đầy đủ.
Khi Anh / Chị mang cho Sinh Vũ một con số ngân sách, Sinh Vũ sẽ nói thẳng phần nào nên giữ và phần nào có thể điều chỉnh để bao bì vẫn ra tay đạt chất, thay vì đồng ý rồi cắt giảm âm thầm ở những chỗ quan trọng.
Chủ đề: Cân đối chi phí và chất lượng vật liệu bao bì. Cẩm nang Sinh Vũ, sinhvu.com
Bấm chọn từng mục Anh / Chị thấy đúng, rồi bấm in hoặc lưu thành PDF để mang theo.
Nếu Anh / Chị đánh dấu phần lớn ở nhóm dấu hiệu trên, đây là lúc nên trao đổi kỹ hơn. Sinh Vũ có thể cùng Anh / Chị soi lại và đề xuất hướng đi.
Sinh Vũ P2 (p2-bao-bi.md), kinh nghiệm thực hành Sinh Vũ Studio. The Definitive Guide to Paperboard Grades, RichPack.
Được, nhưng có ngưỡng. Giảm định lượng tới mức bao bì cầm lên đã mềm oặt hoặc dễ bẹp là đã mất chất, khách hàng cuối cảm nhận được ngay. Cách an toàn hơn là đổi sang cấp vật liệu tương đương thay vì giảm định lượng bừa, hoặc tiết kiệm ở lớp trong ẩn thay vì lớp ngoài.
Nên hỏi nhà in quen của Anh / Chị có chạy được vật liệu đó ở đúng sản lượng cần hay chưa. Vật liệu máy không quen chạy sẽ làm tăng tỷ lệ phế, kéo dài thời gian sản xuất và đội giá thực tế lên cao hơn đơn giá chào ban đầu.
Sinh Vũ báo giá theo phạm vi sau khi nghe brief đầy đủ, và không cam kết giá in vì giá in do nhà in đối tác báo trực tiếp. Sinh Vũ sẽ đề xuất vật liệu phù hợp với máy thật và đúng sản lượng của Anh / Chị, tránh chọn vật liệu đẹp trên lý thuyết rồi vỡ ở khâu sản xuất.